Tag: vật liệu xây dựng nhẹ

Tìm hiểu ưu nhược điểm của các vật liệu xây dựng nhẹ

Tìm hiểu ưu nhược điểm của các vật liệu xây dựng nhẹ

Hiện vẫn tồn tại loại tấm lợp rẻ tiền là fibrô-ximăng, được sử dụng cho những công trình tạm. Tuy nhiên mái tôn gần như chiếm ưu thế tuyệt đối cho thể loại này. Mái tôn có ưu điểm là nhẹ, bền, bị nối ít, thi công nhanh gọn và nhược điểm là cách nhiệt, cách âm kém.

Tìm hiểu ưu nhược điểm của các vật liệu xây dựng nhẹ

Tìm hiểu ưu nhược điểm của các vật liệu xây dựng nhẹ

Những vật liệu xây dựng mới đã xuất hiện, thực hiện những vai trò và chức năng mới, trong những không gian mới. Việc phát triển công nghệ trong kết cấu xây dựng bằng vật liệu và lý thuyết kết cấu, mà trong đó kết cấu bêtông cốt thép và kết cấu thép đã giải phóng các bức tường nặng nề, cùng những yêu cầu công nghiệp hoá
Việc phát triển công nghệ trong kết cấu xây dựng bằng vật liệu và lý thuyết kết cấu, mà trong đó kết cấu bêtông cốt thép và kết cấu thép đã giải phóng các bức tường nặng nề, cùng những yêu cầu công nghiệp hoá xây dựng, đã là điều kiện cho các loại vật liệu bao che cùng phát triển, làm đa dạng cho bộ mặt của công trình kiến trúc.

Kính lên ngôi

Nếu như trước kia các bức tường (xây bằng gạch, đá) ở công trình kiến trúc vừa đóng vai trò bao che cho không gian sử dụng bên trong, vừa phải làm nhiệm vụ chịu lực; thì với kết cấu khung (bêtông cốt thép, thép), các bức tường chỉ còn mang ý nghĩa bao che, ngăn chia. Và kính đã trở thành một vật liệu mới thay thế với nhiều ưu điểm: giảm tải trọng, giảm diện tích chiếm mặt sàn, chịu được các điều kiện thời tiết, chống thấm tuyệt đối ở bề mặt, cho ánh sáng xuyên qua… Những kiến trúc hiện đại, các toà cao ốc bọc kính là hình ảnh quen thuộc ở các đô thị. Ngoài việc là vật liệu sử dụng cho kết cấu bao che bên ngoài, kính còn được dùng làm vách ngăn bên trong thay tường truyền thống, đặc biệt trong các không gian văn phòng làm việc, không gian công cộng như bảo tàng, trung tâm thương mại, nhà ga hàng không, nhà hàng… Kính đóng vai trò phân định không gian chức năng, định tuyến giao thông nhưng không hạn chế tầm nhìn, không cản ánh sáng. Sử dụng kính ngăn chia hợp lý sẽ làm rộng không gian về mặt thị giác và tạo nên những hiệu quả ánh sáng hữu dụng và thẩm mỹ.

Kính cũng được sử dụng phổ biến cho một bộ phận kiến trúc bao che khác là mái. Mái kính là giải pháp kiến trúc – kỹ thuật để khai thác ánh sáng theo phương thẳng đứng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những công trình có mặt bằng lớn, không gian lớn – mà ánh sáng từ các diện tường bao bên ngoài vào phía trong (phía giữa) không đủ, do bị cản hoặc quá xa. Mái kính cũng là một yếu tố tạo nên hiệu quả kiến trúc cho cả ngoại thất và nội thất công trình.

Nhược điểm của kính

Tuy vậy, không có nghĩa là kính không có nhược điểm. Trước hết kính tạo nên hiệu ứng lồng kính, làm tăng nhiệt ở môi trường bên trong. Hệ quả của việc này là phải dùng máy lạnh, gây tiêu tốn năng lượng và ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường. Việc thi công, lắp đặt và sử dụng, vận hành với vật liệu kính cũng gây ra nhiều rủi ro (vỡ) với chính công trình và người sử dụng. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh thiết kế, sửa chữa, cải tạo hay phá dỡ cũng là một vấn đề không đơn giản với loại vật liệu này. Bởi các loại kính được sử dụng làm kết cấu bao che, ngăn chia đều là kính tôi (kính tempered) không thể tái sử dụng với kích thước, quy cách khác được (không thể gia công cơ học như cắt, khoan, mài). Và việc tái chế như một loại phế thải đòi hỏi chi phí cao, việc tiêu huỷ càng khó. Kính xây dựng hiện nay cũng là một vấn nạn với môi trường.

Đa dạng vật liệu mái

Mái là bộ phận bao che phía trên của công trình kiến trúc. Mái có ý nghĩa quan trọng cho việc bảo vệ công trình cũng như yếu tố thẩm mỹ công trình. Bên cạnh các vật liệu và kết cấu mái truyền thống như mái ngói, mái bêtông; hiện nay có rất nhiều loại vật liệu bao che mái – các loại tấm lợp.

Mái bêtông

Mái bêtông có nhược điểm là tải trọng lớn, dễ nứt gây thấm dột, mái ngói có nhược điểm là thi công lâu, không thực hiện trên các công trình có diện mái lớn, độ dốc thấp, không phù hợp với quy trình thi công công nghiệp. Các loại tấm lợp đã khắc phục được những nhược điểm này, đáp ứng được nhu cầu của thực tế xây dựng.

Tấm lợp

Hiện vẫn tồn tại loại tấm lợp rẻ tiền là fibrô-ximăng, được sử dụng cho những công trình tạm. Tuy nhiên mái tôn gần như chiếm ưu thế tuyệt đối cho thể loại này. Mái tôn có ưu điểm là nhẹ, bền, bị nối ít, thi công nhanh gọn và nhược điểm là cách nhiệt, cách âm kém. Ưu điểm của mái tôn là nhẹ cũng là nhược điểm bởi dễ bị gió tốc từ dưới, có thể phá liên kết với hệ khung kết cấu, bay ra ngoài rất nguy hiểm. Tấm lợp tôn cũng có nhiều loại với nhiều hình thức: tôn mạ kẽm, tôn mạ màu, tôn sơn tĩnh điện, tôn chống nóng (có tích hợp một hệ thống lớp cách nhiệt ở mặt dưới)… tôn sóng tròn, tôn sóng vuông… Mái tôn hiện là vật liệu lợp phổ biến và thông dụng nhất trong cả xây dựng dân dụng và công nghiệp.

Ở mức độ cao hơn, là các tấm lợp mái được nghiên cứu và sản xuất đáp ứng được các yêu cầu thẩm mỹ cũng như kỹ thuật, mà vẫn có những ưu điểm của loại vật liệu công nghiệp. Đó là các loại tấm lợp có khả năng cách âm, cách nhiệt, bền trong điều kiện tự nhiên, chịu được tác động hoá học, cơ học. Các dạng tấm lợp này có thể có sóng như tôn, hoặc mô phỏng hình thức mái ngói, tuy nhiên màu sắc rất đa dạng. Những tấm lợp có thể được sản xuất theo khổ lớn, hay theo băng dài – khi lợp chồng lên nhau sẽ tạo đường gân như từng lớp ngói. Vật liệu của các loại tấm lợp có nhiều nguồn gốc. Tấm lợp AHI (sản xuất từ Malaysia bởi công nghệ New Zealand) được sản xuất từ hợp kim nhôm kẽm, bề mặt phủ một lớp hạt đá tự nhiên có màu; tấm lợp Onduline (công nghệ Pháp) còn được gọi là tấm lợp sinh thái có nguồn gốc hữu cơ, được chế tạo sợi hữu cơ tổng hợp và nhựa Bitum. Tấm lợp polycarbonate, vẫn được biết đến với tên gọi tấm nhựa thông minh lại là một lựa chọn thay thế cho kính với những đặc điểm tương đồng (phẳng, nhẵn, trong) và có nhiều ưu điểm riêng như nhẹ, an toàn, ít hấp thụ nhiệt, có khả năng uốn cong cơ học trong điều kiện bình thường và giá thành rẻ hơn nhiều so với kính. Nhược điểm của tấm lợp polycarbonate là gây tiếng ồn lớn khi mưa và rất khó vệ sinh khi chất bẩn chui vào trong các lỗ rỗng của tấm, gây mất thẩm mỹ.

Một số vật liệu xây dựng nhẹ thường được sử dụng

Ứng dụng vật liệu này có ưu điểm là thi công nhanh, sạch bằng keo dán chuyên dụng trên các loại mặt sàn, kể cả sàn đã lát gạch ceramic, đá… Sau một thời gian sử dụng, nếu muốn, người sử dụng dễ dàng thay đổi chất liệu, màu sắc…

Vật liệu xây dựng nhẹ đang là xu hướng mới trong ngành xây dựng hiện nay. Vật liệu xây dựng nhẹ vừa mang lại hiệu quả kinh tế như giảm được chi phí nền móng, thi công nhanh, vừa bảo vệ môi trường mà vẫn đẹp và bền vững.

Gạch, đá bê tông xốp
Với những nguyên liệu thông thường như xi măng, cát, thạch cao, sợi thủy tinh… nhà sản xuất đã chế tác ra đa dạng sản phẩm ứng dụng trong trang trí nội, ngoại thất. Người ta dựa vào màu sắc, hình thù, sớ vân bề mặt của sỏi, đá vàng tím, sa thạch, đá ong… trong tự nhiên để sản xuất các loại gạch đá bằng nguyên liệu nêu trên. Đó là một dạng sản phẩm “giả” đá ghép, đá ốp tường, gạch giả cổ, sỏi đá từ suối… để thay thế sản phẩm có thật trong tự nhiên.

Ngoài ra, cũng từ những nguyên liệu trên còn có thể chế tác được các vật liệu giả gỗ, cây, tre, đá cubic, đá lát sân vườn, trụ cổng vuông – tròn. Nhờ sản xuất vật liệu tự nhiên bằng giải pháp nhân tạo – bê tông nhẹ nên nó không thấm nước và tạo được nhiều hoa văn, họa tiết, sắc màu, kích cỡ với nhiều chủng loại sản phẩm. Đặc tính chủ yếu là nhẹ, giảm được sự đòi hỏi khắt khe về kết cấu chịu lực của công trình.

Những sản phẩm này có ứng dụng đa dạng và thích hợp trong việc hoàn thiện công trình như ốp tường trang trí, lát nền sân, ban công, vườn, lối đi; làm tường rào, cột…

Đá ép trên nhôm, kính, ceramic
Bản thân đá tự nhiên đẹp, gần gũi, sang trọng và thích hợp trong trang trí, xây dựng các loại công trình nhưng nó có “tội” là nặng. Khắc phục khuyết điểm đó, các nhà sản xuất đã có thiết bị hiện đại “thái” mỏng đá tự nhiên ra thành những tấm dày chỉ 3 – 5mm. Sau đó, dán nó lên trên các bề mặt vật liệu khác để ứng dụng trang trí thiết kế các công trình. Từ đó, công trình vừa giảm được tải trọng, vừa mang lại các hiệu ứng khác nhau, vừa tạo được bề mặt là đá thật.

Chẳng hạn, đá ép trên tấm nhôm, “sức nặng chỉ bằng 1/7 so với nguyên phiến đá; vào khoảng 8 – 14kg/m2. Ví dụ, có thể đưa lên cao, ốp các bề mặt cong, vách ngăn, cửa… thậm chí làm trần phòng. Do đá ép trên nhôm nên có khả năng chịu được môi trường nước, sử dụng được trong phòng tắm, làm mặt quầy bếp, sàn nhà…

Đá xẻ mỏng nhưng được ép trên kính hay nền gạch ceramic thì cũng nhẹ hơn là tấm đá “nguyên chất”. Đá ép kính cho hiệu ứng phản quang, chiếu sáng làm nổi vân và sắc của đá tự nhiên. Đá ép trên ceramic lại có tác dụng chống ẩm và cách âm tốt, thích hợp làm sàn nhà…

Gạch nhựa vinyl
Bạn khó có thể “phát hiện” đó là đá, gỗ hay thảm “giả”.Nhưng nó lại được làm bằng nhựa cao cấp vinyl, sản xuất giống như thật, như vật liệu có trong tự nhiên. Dù là nhựa nhưng vẫn tạo được hoa văn, màu sắc và đặc biệt không có độ bóng của nhựa – màu bóng vốn bị giới kiến trúc “chê” là thiếu thân thiện với công trình. Không những không bóng mà độ gồ ghề, lồi lõm, dợn sóng của đá, gỗ, hay thảm len đều được thể hiện rõ nét trên bề mặt “gạch nhựa” này.

Đặc điểm sản phẩm là rất nhẹ vì dày chỉ 3 mm và bằng một loại nhựa mềm riêng biệt nên trọng lượng nhỏ, không đáng kể so với các loại gạch đá khác lát trên các công trình.

Ứng dụng vật liệu này có ưu điểm là thi công nhanh, sạch bằng keo dán chuyên dụng trên các loại mặt sàn, kể cả sàn đã lát gạch ceramic, đá… Sau một thời gian sử dụng, nếu muốn, người sử dụng dễ dàng thay đổi chất liệu, màu sắc…

Loại gạch nhựa này thích hợp để làm mới nền nhà. Gạch có những đặc tính như không cong vênh, không co nhót, dán không cần ron (joint), vệ sinh dễ dàng; chống được trầy xước, mài mòn hay va đập, chống cháy. Sản phẩm của Hàn Quốc, đa dạng về kiểu dáng, được bảo hành 5 năm với màu sắc và sự biến dạng.

Gạch nhẹ
Gạch nhẹ là loại gạch block chế tác từ xi măng, cát và chất tạo bọt để làm cho kết cấu viên gạch bên trong có những khoảng rỗng như hình thức tổ o­ng. Do đó sản phẩm nhẹ, cách âm, chịu nhiệt (hệ số dẫn nhiệt thấp hơn gạch nung 2 lần) và dễ khoan, cắt hay đóng đinh trực tiếp.

Gạch nhẹ có kích thước cơ bản: 75 x 200 x 600mm. Với kích thước này, một viên gạch nhẹ chỉ nặng 7,2kg và trong xây dựng, nó có thể thay thế cho 6 viên gạch ống xây dính lại nặng khoảng 14kg. Như vậy, cùng một kích thước xây dựng, xây bằng gạch nung sẽ nặng khoảng gấp đôi so với xây bằng gạch nhẹ. Gạch thích hợp xây nhà cao tầng, cơi nới tầng, vách ngăn, căn hộ trên nền đất yếu.

Một m2 tường xây bằng gạch nhẹ chỉ có 8 viên, xây gạch nung phải tốn 65 viên cộng thêm chi phí cho xi măng, cát (làm mạch hồ). Ngoài ra, còn chi phí nhân công, thời gian thi công cũng chậm hơn so với xây bằng gạch nhẹ. Tính chung, nếu xây 100 triệu đồng gạch nung thì xây gạch nhẹ chỉ mất khoảng 80 triệu đồng.